Nhật Bản được biết đến là một cường quốc vô cùng giàu mạnh và phát triển về các lĩnh vực đặc biệt là kinh tế và khoa học kỹ thuật. Tưởng chừng ở đất nước này mọi thứ đều hiện đại và dẫn đầu mọi xu thế. Nhưng tại mảnh đất xinh đẹp này lại lưu giữ được những nét văn hóa cổ truyền vô cùng đặc biệt được giữ gìn từ nhiều thế hệ và có bề dày lịch sử văn hóa rất đáng ngưỡng mộ. Có rất nhiều loại hình nghệ thuật trở thành di sản của đất nước này được cả thế giới ngưỡng mộ như nghệ thuật thư pháp, nghệ thuật khắc gỗ, nghệ thuật cắm hoa Ikebana, nghệ thuật gốm, nghệ thuật dệt lụa hay nghệ thuật gấp giấy Origami….Trong bài viết này, cùng tìm hiểu điều gì đã làm nên sự nổi tiếng của nghệ thuật thư pháp Nhật Bản.
Thư pháp Nhật Bản là gì?
Nói một cách đơn giản là nghệ thuật viết chữ đẹp. Đây là một hình thức nghệ thuật nổi tiếng ở đất nước Mặt trời mọc và được người dân tham gia học tập và thực hành rất đông đúc.
Nghệ thuật thư pháp hay còn gọi là thư đạo (Shodo) lí do là vì nghệ thuật này không đơn thuần chỉ là viết chữ, mà những con chữ đó phải thể hiện được bản thân người viết nên mới được gọi là thư đạo hay nghệ thuật thư pháp.
Với dụng cụ chuyên dụng là bút lông và mực đen, trên nền giấy Tuyên, truyền tải cái đẹp và sự hài hòa. Thông qua những con chữ mà những tâm tư, suy nghĩ hay cả tính cách của người viết sẽ được thể hiện lên những trang giấy.
Nguồn gốc nghệ thuật thư pháp Nhật Bản.
Thư pháp có nguồn gốc rất lâu đời, nó được du nhập từ Trung Quốc - nơi có nền văn hóa chữ Hán vào Nhật Bản, cùng với Phật giáo - thông qua việc chép lại kinh Phật, khoảng từ thời đại Asuka đến thời đại Nara (thế kỷ 5 và 7 sau công nguyên).
Dựa trên cơ sở chữ Hán, người Nhật đã sáng tạo ra kiểu chữ của riêng mình là Hiragana và Katakana( kiểu chữ biểu thanh). Thư pháp Nhật Bản được hình thành từ hai kiểu chữ chính là chữ Hán đến từ Trung Quốc và kiểu chữ Hiragana, Katakana
Việc có thể viết chữ bằng bút lông và mực đen được cho là một trong những sự giáo dục quan trọng đối với giới quý tộc và võ sĩ đương thời. Từ đó, thư pháp đã trở thành một bộ môn nghệ thuật nổi tiếng của xứ sở hoa anh đào, với một phong cách mang đậm bản sắc riêng của người Nhật Bản. Đặc biệt, với sự sáng tạo ra hệ thống chữ Kana vô cùng đặc sắc.
Các phong cách chính trong nghệ thuật viết thư pháp: có 5 phong cách chính:
Phong cách Kaisho ((Khải thư) :
Chữ Khải ra đời vào khoảng đời Hán, hoàn thiện vào đời Ngụy Tấn, phát triển rực rỡ vào đời Đường.
Khải thư là bước phát triển hoàn thiện nhất của chữ Hán. Chữ Khải lưu truyền đến ngày nay, sau chữ Khải không còn thể chữ nào tiến bộ hơn nữa. Chữ Khải kết cấu chặt chẽ, nét bút chỉnh tề, lại đơn giản dễ viết, vô cùng quy phạm. Phần lớn chữ in ngày nay đều thuộc về chữ Khải.
Do đó, Khải thư có nghĩa là “viết thư pháp kiểu vuông”, là kiểu viết nhập môn của thư pháp, người mới bắt đầu học đều phải ngày ngày luyện viết kiểu chữ này. Kiểu chữ này rất tốt trong việc tạo nền tảng cho học viên sử dụng bút lông để viết chữ thư pháp. Cách viết này giúp cho những học viên mới, nắm vững được những nguyên tắc cơ bản, cũng như giúp họ rèn luyện được sự kiên nhẫn cho chính bản thân.
Phong cách thư pháp Kaisho( Khải thư)
Trong phong cách Kaisho, mỗi nét chữ được viết ra đều thể hiện được sự cẩn thận và rõ ràng, tạo được kiểu thư pháp theo lối chữ in mà chúng ta có thể nhìn thấy trên các tờ báo.
Đặc trưng của phong cách này là các nét chữ rõ ràng và cân đối, và cách viết cũng rất dễ học.
Phong cách Gyosho (Hành thư) :
Là dạng viết nhanh của chữ Khải. Chữ Hành bắt đầu phổ biến vào thế kỷ 2. Khi được viết nhanh, chữ Khải có thể được giản lược đi một hai nét để tạo thành một thư thể gọi là Hành Khải. Cũng tương tự như vậy, chữ Hành sẽ biến thành Hành thảo.
Đây là phong cách “viết thư pháp kiểu nhanh” muốn nói đến phong cách viết nửa chữ thảo trong thư pháp Nhật, cách viết mà hầu hết mọi người hay sử dụng nhiều trong ghi chú. Không giống với cách viết chữ Thảo trong tiếng Hoa, trong phong cách Gyosho, những nét chữ được viết rời rạc theo phong cách Kaisho được kết hợp với nhau tạo thành phong cách viết trôi chảy và lưu loát hơn. Chữ viết theo kiểu này thường phổ thông và dễ đọc đối với đại đa số tầng lớp tri thức ở Nhật.
Đặc trưng của kiểu viết này là khi viết sẽ viết theo một nét liên tục ít bị dừng lại hay đứt đoạn, và có thể lược bỏ bớt một số phần của chữ.
Phong cách Sousho (Thảo thư) :
Nguồn gốc: Thảo thư ra đời khá sớm, từ đầu đời nhà Hán. Khi đó người ta dùng chữ Lệ, vì nhu cầu ghi chép nhanh nên người ta tìm cách tăng tốc độ viết, giản lược các nét bút, từ đó hình thành Thảo thư.
Là “kiểu thư pháp nhiều nét”, đề cập đến phong cách viết chữ Thảo trôi chảy trong thư pháp Nhật. Là thư thể được viết nhanh nhất, bút pháp phóng khoáng.
Với cách viết này, người đọc rất khó đọc vì các nhà thư pháp hiếm khi cho phép bút lông của mình rời khỏi giấy, để có được nét chữ thanh nhã và nhanh hơn. Chỉ duy nhất những người nào học viết kiểu thư pháp này mới có thể dễ dàng đọc được nguyên bản thể thư của nó.
Tensho (Triện thư):
Nguồn gốc: là một kiểu chữ thư pháp Trung Quốc cổ. Đây là loại chữ tượng hình có nguồn gốc từ chữ Giáp cốt thời nhà Chu và phát triển ở nước Tần trong thời kỳ Chiến quốc. Kiểu chữ Triện của nhà Tần trở thành dạng chữ viết chính thức cho toàn Trung Quốc dưới thời nhà Tần và tiếp tục được sử dụng rộng rãi để khắc trang trí trên các ấn tín dưới thời nhà Hán.
Chữ Triện chủ yếu được dùng để khắc con dấu vì độ phức tạp cao và đặc tính hình dáng khiến cho chữ rất khó giả mạo. Ngoài ra, nhờ tính thẩm mỹ đặc thù, chữ triện còn được dùng để viết thư pháp.
Khi du nhập vào Nhật Bản, phong cách này cũng được viết trên con dấu hoặc hộ chiếu của công dân Nhật Bản. Đặc điểm của phong cách viết này là các chữ có dạng vuông như chữ Điền (田) hay Nhật (日) sẽ được viết bo cong lại.
Reisho (Lệ thư):
Nguồn gốc: Đây là loại chữ giản lược từ Triện thư, gần với chữ viết Trung Quốc hiện đại. Lệ thư xuất hiện từ thời Chiến quốc nhưng do lựa chọn của Tần Thuỷ Hoàng, Triện thư đã được sử dụng chính thức trong thời gian dài trước khi bị lệ thư thay thế vì tính đơn giản hữu ích của nó. Lệ thư có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống kí tự sau này của Trung Quốc, là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển chữ Hán, đánh dấu giai đoạn chữ viết dần thoát khỏi tính tượng hình ban đầu.
Lệ thư là nền tảng phát triển thành Khải thư, chữ viết phổ biến của Trung Quốc ngày nay.
Đặc điểm của Lệ thư là có hình chữ nhật, nét ngang hơi dài và nét thẳng hơi ngắn nên chữ có chiều ngang rộng hơn cao.
Đây là phong cách dùng để viết các chữ như “một vạn yên” hay “tiền giấy Nhật Bản” trên tờ tiền Nhật Bản. Đặc điểm là có các nét lượn sóng bên trái và bên phải.
Các trường phái thư pháp Nhật Bản: thư pháp truyền thống đến thư pháp hiện đại của Nhật Bản có thể được xếp theo 7 trường phái sau:
Thư pháp chữ Hán là một loại hình thư pháp truyền thống, sử dụng các từ Hán để viết theo các phong cách khác nhau, được tạo nên nhờ dựa vào thơ, văn xuôi cổ điển viết bằng chữ Hán, dựa vào cảm nhận nghệ thuật và phương pháp học thư pháp của từng người. Bộ môn thư pháp chữ Hán thể hiện tính hiện đại hoà quyện tính truyền thống.
Thư pháp chữ Kana được tạo ra để viết những từ ngữ đẹp của Nhật Bản thông qua việc cải biên, phát triển những bài hát Waka và thơ Haiku. Vẻ đẹp của chữ Kana hiện đại được hoà trộn với cảm giác mới của Kana chữ lớn (nguồn gốc của chữ Kana là chữ nhỏ).
Thư pháp chữ Kana
Chữ Kana là hệ thống văn tự ký hiệu âm tiết trong tiếng Nhật, một phần của hệ thống chữ viết tiếng Nhật. Người Nhật đã linh hoạt trong việc sử dụng các phiên âm tiếng Nhật để viết thư pháp.
Thư pháp thơ văn cận đại là những tác phẩm lấy văn và thơ hiện đại làm đề tài, điều hoà giữa chữ Hán và chữ Kana tạo ra một thư pháp mới. Do tính chất dễ đọc và gần gũi nên nó nhận được sự ủng hộ của nhiều người.
Thư pháp viết chữ cỡ lớn là những tác phẩm thư pháp viết chữ cỡ lớn mà số lượng chỉ từ 1 đến 2 chữ. Một thế giới thư pháp mới được tạo ra từ việc định hướng tạo hình, tôi luyện đường nét và sáng tạo về màu đen.
Thư pháp chữ in bằng khuôn khắc đá - Tenkoku được đánh giá là tinh hoa của phương Đông và giới thư pháp. Chữ in bằng khuôn hình vuông 3cm. Người ta khắc trên đá những bản thư pháp và chữ viết thời cổ đại của Trung Quốc sau đó in trên giấy trắng, tạo nên sự tương phản rất đẹp giữa mực đỏ và giấy trắng.
Thư pháp chữ khắc gỗ
Thể hiện chữ viết được khắc lên bản gỗ. Chữ viết ở đây khác với chữ viết bằng bút, nó mang tính lập thể và còn có thể được tô bằng nhiều màu sắc. Khắc tự là một bộ môn thư pháp đang gây được sự chú ý.
Thư pháp ZenEi - bộ môn này biến đổi nhận thức trước kia về thư pháp (coi thư pháp là biểu hiện của nhân cách con người), chịu ảnh hưởng của hai trường phái: hội họa trừu tượng phương Tây và triết học phương Đông. Không bị giới hạn bởi việc lấy chữ làm nguyên liệu chính, người viết có thể tự do thể hiện tâm hồn và tình cảm.
Dụng cụ viết thư pháp:
Giấy Tuyên: hay còn gọi là Giấy Nhật (Washi): được làm từ các sợi bên trong vỏ cây Gampi, cây bụi Mitsumata hoặc cây dâu giấy (Kozo). Washi thường được làm thủ công, ngay cả trong thời hiện đại, với những kỹ thuật được truyền lại qua hơn 1.000 năm.
|
|
Các sợi gỗ của giấy Washi có khả năng hấp thụ mực và màu vẽ rất đặc biệt, làm những nét chữ hoặc nét vẽ trở nên đậm màu và rất sống động, nên đây cũng là loại giấy quan trọng trong nghệ thuật thư pháp và hội họa truyền thống Nhật Bản, cũng như ngành in ấn của nước này thời xưa.
Thỏi mực (Sumi): thỏi mực càng lâu năm thì càng tốt, những thỏi mức tốt nhất là những thỏi có tuổi khoảng 50-100 năm.
Nghiên mực (Suzuri) để mài mực (mài thỏi mực với nước).
Chặn giấy (Bunchin) để cố định giấy trên mặt phẳng.
Lót giấy (Shitajiki): đặt dưới giấy để tránh mực bị thấm ra ngoài.
Cọ (Fude): dùng để viết, cọ có thể có nhiều hình dạng và kích cỡ, tùy vào loại chữ và kích thước chữ để chọn các loại cọ khác nhau. Cọ thường được làm từ lông động vật, phổ biến nhất là từ lông dê, cừu, bờm ngựa,…
Cán bút được làm từ gỗ, tre, ngày nay có thể làm từ nhựa hay các vật liệu khác.
Ấn (chiện): nghệ thuật khắc ấn được gọi là Tenkoku. Các học viên được khuyến khích tự khắc ấn riêng. Vị trí của dấu chiện này tùy thuộc vào quan niệm thẩm mĩ.
Quá trình viết thư pháp.
Cách ngồi: Tư thế cơ bản là ngồi quỳ thẳng lưng trên đệm. Nếu không quen với việc ngồi quỳ, hoặc bị đau lưng, đau khớp thì có thể ngồi trên ghế hoặc sử dụng các thiết bị hỗ trợ.
Tư thế: giữ lưng thẳng, chú ý không khom lưng hay tựa tay lên bàn khi viết, tay trái đặt nhẹ nhàng trên mặt giấy để tạo ra được những nét chữ đẹp và sạch sẽ.
Cách cầm bút lông: Đầu tiên cần phải mài mực cùng với nước trong nghiên cho đến khi mực tan ra thành dạng lỏng thì có thể sử dụng được. Tiếp theo, lấy bút lông chấm vào mực, chú ý thao tác cầm bút ở khoảng giữa cây bút và giữ bút bằng 3 ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, cầm ở giữa thân bút và vuông góc với mặt giấy.
Khi viết bằng bút chì nên nghiêng bút một chút nhưng khi sử dụng bút lông phải giữ bút luôn thẳng đứng.
Là một loại hình nghệ thuật đặc sắc, nơi con người có thể thả hồn vào những con chữ. Nơi mọi tâm tư tình cảm được lột tả một cách chính xác nhất. Tạm gác sự ồn ào vội vã của nhịp sống đô thị, khi tìm về nguồn cội của thư pháp giúp ta tĩnh tâm, gột rửa tâm hồn, cân bằng lại cuộc sống. Đó cũng là lý do vì sao thư pháp ở đất nước Nhật Bản được người dân coi trọng, giữ gìn, bảo tồn và phát huy mở rộng khắp toàn lãnh thổ.